Chèo sân đình và các phường chèo Bắc Bộ
Chèo là loại kịch hát dân gian của đồng bằng Bắc Bộ, xưa diễn trên một chiếc chiếu trải giữa sân đình nhân dịp hội làng, do các phường chèo nghiệp dư hoặc bán chuyên đảm nhận.
Chèo là loại hình sân khấu kịch hát dân gian tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt các vùng Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam. Tục truyền chèo đã có từ thời Đinh, Lý, Trần, nhưng tư liệu chắc chắn về các vở chèo cổ phần nhiều chỉ còn từ thế kỷ XVIII–XIX trở đi, nên các mốc sớm nên hiểu là truyền ngôn.
Chèo truyền thống thường diễn ở sân đình trong những ngày hội làng, sân khấu chỉ là một chiếc chiếu trải giữa sân, phía sau căng một tấm phông làm buồng trò, khán giả ngồi vây ba mặt. Vì vậy người ta hay gọi là chiếu chèo, và nói "phường nào giữ chiếu" là nói phường nào được làng mời hát hội. Dàn nhạc có trống, thanh la, sáo, nhị, và người ngồi chiếu còn "đế", tức chen vào những tiếng hô, tiếng hỏi để thúc trò.
Các vai trong chèo có những hành điển hình như đào thương (người phụ nữ đức hạnh, chịu khổ), đào lệch (cô gái lẳng lơ, sôi nổi), kép, mụ ác, và nhất là các vai hề như hề gậy, hề áo dài, những người được quyền ứng tác, châm biếm cả quan lại lẫn khán giả. Lề lối hát có những làn điệu quen thuộc như sử rầu, vỉa, đường trường. Lối lẩy câu ứng khẩu đối đáp giữa các vai là một nét đặc sắc mà người xem rất ưa.
Đầu thế kỷ XX, ở các đô thị xuất hiện lối chèo văn minh, chèo cải lương diễn trên sân khấu có màn, có cảnh, trong khi ở nông thôn các phường chèo làng vẫn đi hát hội theo lối cũ. Các làng có truyền thống chèo nổi tiếng như làng Khuốc (Thái Bình) vẫn còn đến ngày nay. Phường chèo làng Thượng, làng Hạ và cuộc thi ở làng Đông trong kiếp này là hư cấu.
- Trần Việt Ngữ, *Về nghệ thuật chèo*
- Hà Văn Cầu, *Mấy vấn đề về chèo cổ*
- Wikipedia: Chèo