Trăng trong thơ Lý Bạch
Trăng là hình ảnh trở đi trở lại trong thơ Lý Bạch: nỗi nhớ quê, người bạn rượu, tấm gương soi tóc bạc, nhân chứng của nghìn đời.
Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) — bài tứ tuyệt ngắn gọn, có lẽ là bài thơ Đường được thuộc lòng nhiều nhất Đông Á:
Sàng tiền minh nguyệt quang,Nghi thị địa thượng sương.Cử đầu vọng minh nguyệt,Đê đầu tư cố hương.
Nguyệt hạ độc chước (Một mình uống rượu dưới trăng, bài 1) — thi nhân không có bạn, bèn mời trăng và bóng mình cùng uống: "đối ảnh thành tam nhân" (với bóng thành ba người). Trăng không biết uống, bóng chỉ theo thân, nhưng ông vẫn hẹn kết bạn "vô tình" mãi mãi, "tương kỳ mạc Vân Hán" — hẹn nhau tận dải Ngân Hà xa thẳm.
Thu Phố ca (bài 15) — "Bạch phát tam thiên trượng" (tóc bạc ba nghìn trượng): một trong những lối nói quá nổi tiếng nhất văn học Trung Hoa; hai câu sau hỏi tấm gương sáng không biết sương thu ở đâu mà bám lên tóc.
Cổ lãng nguyệt hành — nhớ thuở bé chưa biết trăng, gọi là "mâm ngọc trắng", lại ngờ là "gương Dao Đài" bay trên mây xanh.
Nga Mi sơn nguyệt ca (Bài ca trăng núi Nga Mi) — viết khoảng năm 725, khi Lý Bạch chừng hai mươi tư tuổi xuôi thuyền rời đất Thục: "Nga Mi sơn nguyệt bán luân thu, ảnh nhập Bình Khương giang thủy lưu" (trăng núi Nga Mi nửa vành thu, bóng in vào dòng sông Bình Khương mà trôi). Sau chuyến đi ấy ông lang bạt khắp nơi và theo phần lớn các nhà nghiên cứu thì không còn trở về quê nữa. Chuyện bóng trăng Nga Mi theo ông tới ghềnh Thái Thạch trong kiếp này là hư cấu của Gương.
Bả tửu vấn nguyệt (Nâng chén hỏi trăng) — "Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt, kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân": người nay không thấy trăng thời xưa, nhưng trăng nay đã từng soi người xưa; người xưa người nay như nước chảy, cùng ngắm trăng sáng đều như thế.
Thơ Đường đã thuộc phạm vi công cộng. Các bản dịch thơ trong kiếp này là bản "Gương tạm dịch"; ở Việt Nam còn nhiều bản dịch nổi tiếng khác (như bản của Tương Như cho Tĩnh dạ tứ) mà bạn đọc có thể tìm đọc.
- Toàn Đường thi
- Lý Thái Bạch toàn tập
- Thơ Đường (nhiều dịch giả)